View Full Version : Phân tâm học và tình yêu
Phân tâm học và tình yêu
Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục
Tác giả - Sigmund Freud
Lời giới thiệu
Ba tiểu luận mãi mãi vẫn là một trong những tác phẩm chủ yếu của
Freud. Chúng mang lại cơ sở cho lý thuyết về các chứng nhiều tâm của
ông, giải thích nhu cầu dồn nén và nguồn năng lượng cảm xúc nằm bên
dưới những vận động và những ứng xử hữu thức và vô thức, mà Freud gọi
năng lượng ấy là libido (dục năng). Ông không chờ đợi Ba tiểu luận ấy
sẽ được đón nhận một cách thuận lợi, thậm chí ông thấy trước rằng
chúng phải đương đầu với sự chống đối, bóp méo, tuy rằng ông đã cố
trình bày chúng một cách sáng sủa, mạnh mẽ và rõ ràng. Cùng với cuốn
Khoa học về các giấc mơ, đây là một trong những ấn phẩm được ông sửa
chữa và thường xuyên cập nhật hoá qua tất cả những lần xuất bản nối
tiếp nhau. Về sau, trong Nhập môn phân tâm học và trong tác phẩm cuối
cùng Tóm tắt phân tâm học mà ông chưa hoàn toàn viết xong, Freud đã
thay đổi thứ tự trình bày các sự kiện so với thứ tự gốc, và thêm vào
đó nhiều nhận xét và sửa đổi quan trọng mà ông thấy cần phải làm.
Như đã được viết ra, Ba tiểu luận lần lượt bàn về những
lệch lạc dục tình trẻ con và về những biến đổi vào tuổi dậy
thì, theo thứ tự đó. Về sau, Freud thấy cần phải trình bày với
người đọc trước hết về tính dục trẻ con, và từ đó mà phát triển nhứng
ý tưởng khác của ông về vấn đề này. Cách đề cập về lý thuyết ấy chắc
chắn là logic nhất và thoả đáng nhất; nhưng, thật dễ hiểu những lý do
thúc đẩy Freud giữ lại thứ tự ban đầu, vì tác giả thấy cần phải trình
bày trước hết với người đọc những sự kiện mà họ có không hài lòng
chăng nữa, rồi sau đó mới đưa ra sự giải thích về những sự kiện ấy
dưới ánh sáng những phát hiện riêng của ông.
Cả ngày nay nữa, chúng ta cẫn có thể thấy rất có ích khi nghiên cứu
những thuật ngữ do chính Freud dùng trong những văn bản ấy, với một độ
sáng rõ và súc tích cao nhất, không thể vượt qua được. Đây là một ví
dụ lấy từ lời nhập đề Sự phát triển của chức năng tính dục, ở chương
ba cuốn Tóm tắt phân tâm học, một trong những tác phẩm cuối cùng mà
ông không bao giờ hoàn thành được (1939):
"Theo ý kiến phổ biến rộng rãi nhất, tính dục con người chủ yếu hướng
tới chỗ làm cho các cơ quan sinh dục của hai cá nhân thuộc giới tính
khác nhau tiếp xúc với nhau. Những cái hôn, việc nhìn ngắm, sờ mó thân
thể bạn làm tình được coi là những biểu hiện phụ, những hành vi mào
đầu. Xu hướng tính dục được coi như xuất hiện vào tuổi dậy thì, tức là
vào thời kỳ trưởng thành về tính dục và có khả năng sinh đẻ. Nhưng,
một số sự kiện được biết tới nhiều lại không nằm trong cái khung chật
hẹp của một quan niệm như vậy:
1.Thật lạ lùng, một số người chỉ cảm thấy mình bị hấp dẫn bởi những
người cùng giới tính với mình và bởi những cơ quan sinh dục của họ.
2. Cũng thật lạ lùng, khoái cảm ở một số người tuy vẫn mang tính chất
hoàn toàn tính dục, lại không khởi phát từ những vùng sinh dục hay
không sử dụng những vùng này theo lối bình thường. Những người đó được
coi là những kẻ lệch lạc (pervers).
3. Cuối cùng, rõ ràng có một số trẻ con bị coi là thoái hóa vì quan
tâm rất sớm tới cơ quan sinh dục của chúng, với những chỉ báo kích
thích có thể nhìn thấy.
Việc khám phá ra ba sự kiện chưa được biết tới này đã gây ra sự xôn
xao. Do nêu bật những sự kiện này, phân tâm học đã đi ngược lại những
ý kiến phổ biến, do đó bị chống lại kịch liệt. Đây là những kết quả
chính đã thu được:
a. Đời sống tính dục không phải bắt đầu vào tuổi dậy thì mà được biểu
hiện rất sớm từ khi sinh ra, một cách rõ ràng.
b. Cần phân biệt các khái niệm tính dục (sexuel) và sinh dục
(gesnital). Từ "tính dục" có một nghĩa rộng hơn nhiều và bao gồm nhiều
hoạt động không có liên quan với cơ quan sinh dục.
c. Đời sống tính dục bao hàm chức năng cho phép thu được khoái cảm từ
những vùng khác nhau của thân thể; chức năng này về sau phải được đem
phục vụ cho sự sinh đẻ. Tuy nhiên, hai chức năng ấy không phải bao giờ
cũng hoàn toàn trùng hợp nhau.
Điều khẳng định đầu tiên, bất ngờ nhất trong những khẳng định nói
trên, cũng là điều đáng được quan tâm hơn cả. Nếu phủ nhận tính chất
tính dục của những hoạt động thân thể ở những đứa trẻ rất nhỏ, thì đó
chỉ có thể là do hậu quả của một định kiến cũ kỹ mà có. Những hoạt
động ấy gắn với những hiện tượng tâm thần mà sau này chúng ta lại thấy
trong hoạt động yêu đương của người lớn, chẳng hạn như sự cố định vào
một đối tượng riêng biệt, sự ghen tuông... Người ta cũng nhận thấy
rằng những hiện tượng thời thơ ấu đầu tiên ấy tiến triển theo một
quy tắc, thường xuyên tăng lên cho tới cuối năm thứ năm, lúc chúng đạt
tới đỉnh cao nhất để sau đó đình chỉ một thời gian. Lúc này, sự
tiến triển dừng lại và nhiều điều bị quên đi hay bị thụt lùi. Sau thời
kỳ gọi là tiềm tàng ấy, tính dục lại xuất hiện vào tuổi dậy thì, chúng
ta có thể nói rằng nó lại bừng nở. Như vậy, chúng ta đứng trước một sự
hình thành hai pha của đời sống tính dục, một hiện tượng chỉ thấy có ở
con người mà vai trò của nó trong sự tiến hóa của con người sẽ rất
lớn. Những sự kiện của thời kỳ tính dục sớm ấy - trừ những ngoại lệ
hiếm hoi ra - tất cả đều gặp phải chứng quên trẻ con (amanesie
infantile), mà chúng ta không được thờ ơ. Thật vậy, việc ghi nhận
chứng quên này cho phép chúng ta có một ý niệm về nguyên nhân của các
chứng nhiễu tâm và xây dựng kỹ thuật chữa trị theo phân tâm học. Hơn
nữa, việc nghiên cứu các quá trình tiến triển trong tuổi thơ còn đem
lại cho chúng ta những bằng chứng làm chỗ dựa cho những kết luận khác.
"Cơ quan đầu tiên được biểu hiện thành vùng kích dâm (zones erogènes)
và đặt ra một yêu cầu của libido đối với tâm thần, từ khi mới đẻ, đó
là miệng. Toàn bộ hoạt động tâm thần tập trung
trước tiên vào việc thỏa mãn các nhu cầu của vùng này. Đó là điều hiển
nhiên, vì trước hết, nhu cầu bảo tồn đem lại sự thỏa mãn cho ăn uống.
Nhưng xin đừng lẫn lộn sinh lý với tâm lý. Từ rất sớm, khi mút vú
cho bằng được, đứa trẻ cảm thấy một sự thỏa mãn vì làm như vậy. Nhưng,
tuy bắt nguồn từ ăn uống, sự thỏa mãn ấy vẫn có tính độc lập. Vì nhu
cầu mút vú có thể đem lại khoái cảm nên nó có thể và phải được coi là
mang tính dục".
Khi nắm được điểm xuất phát ấy rồi, chúng ta có thể bắt đầu nắm được
toàn bộ lý thuyết tính dục của Freud. Khi khoái cảm mút vú vẫn là một
phần những hoạt động của đứa trẻ, thì lợi có cứng lên và răng nó mọc
ra. Nó làm tăng khoái cảm và thậm chí tìm kiếm một cảm giác về sức
mạnh bằng cách cắn vú khi bú, như nhiều bà mẹ cho con bú có thể xác
nhận điều đó theo kinh nghiệm của mình. Khi đứa trẻ bú, tính hung dữ
thơ ngây khiến nó nhay đầu vú và sự chống cự của nó khi mẹ rút đầu vú
ra sẽ gây cho nó sự đau khổ vì bị mất đi những cảm giác kích thích dễ
chịu. Đó là tính gây chấn có chủ ý, còn được biểu hiện rõ hơn nữa khi
đứa trẻ được cho bú bằng bình sữa.
Với sự phát triển sau này của ý thức ở bản thân đứa trẻ, một vùng khác
cũng chứa cảm giác thích thú và có thể được dùng theo hai lối ngược
nhau, tuy đều quan trọng như nhau. Đó là vùng hậu môn
(anus), đặc biệt ở chỗ nối liền da và niêm mạc hậu
môn - trực tràng. Từ đó, các nhà sinh lý học đều thừa nhận một
thực tế là tất cả những chỗ nối nhau giữa da và niêm mạc trên thân thể
không những có một độ nhạy cảm đặc biệt, mà còn có thể gây ra khoái
cảm khi được kích thích nhẹ nhàng. Người ta có thể tự hỏi, nếu đầu
tiên Freud không lưu ý tới cái được ông gọi là các vùng gây dục hay
hứng dục thì làm sao có thể thực hiện được sự khám phá ấy một cách
nhanh chóng và dễ dàng như vậy.
Khoái cảm hậu môn trước tiên đến từ sự thỏa mãn thể chất khi tống
được phân ra khỏi ruột; cái lợi thứ hai đến từ sự thỏa mãn tinh
thần mà đứa trẻ cảm thấy khi thực hiện được chức năng này vì bố mẹ nó.
Ngôn ngữ nhà trẻ phản ánh lối nhìn nhận ấy về việc đại tiện, chẳng hạn
việc đi ị thường được coi như một phần thưởng lớn... Cả ở đây nữa, ý
chí sức mạnh và độc lập có thể xung đột với mong muốn đơn giản được
thích thú, được yêu thương và được nhận sự yêu thương ấy một cách thụ
động. Giữ phân lại trong ruột già, bướng bỉnh không chịu "đi ị" vào bô
là những cách thách thức uy quyền của bố mẹ. Còn có thêm một thích
thú về cảm giác giữ phân lại khi ruột già đầy cứng, một thích thú về
thể chất, gắn với việc trì hoãn, do đó, kéo dài khoái cảm ngược lại là
tống hết phân ra khỏi ruột.
Còn nữa
Cuốn sách Phân tâm học và tình yêu do Đỗ Lai Thuý biên soạn, với các
bản dịch của Phan Ngọc Hà, Tuệ Sỹ, Hoàng Thiên Nguyễn, Phạm Vĩnh Cư.
Tác giả S. Freud, E. Fromm, A. Schopenhauer, V. Soloviev, Đỗ Lai Thuý.
Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin phát hành năm 2003. Chúng tôi xin trích
đăng cuốn sách này.
Nguồn: vnexpress.net
Xen vào sự xuất hiện hai khả năng khoái cảm ấy với những phương tiện
biểu hiện ngược nhau của chúng, còn có khoái cảm thứ ba và cuối cùng
về thể chất của tuổi ấu thơ, khoái cảm này nằm ngay ở các vùng sinh
dục trên thân thể...
Những vùng này, tuy hoàn toàn chưa sẵn sàng cho việc thực hiện hành vi
tính dục về mặt sinh lý, vẫn là những vùng mạnh mẽ, quan trọng đối với
khoái cảm. Lúc đầu, Freud cho rằng việc kích thích các vùng đó nói
chung phải mang một yếu tố hấp dẫn có chủ ý từ bố mẹ hay từ những đứa
trẻ khác; nhưng lý thuyết cuối cùng của ông đã dựa vào một thực tế là
những hoang tưởng hấp dẫn rất thường khi là những ký ức - màn chắn có
từ tuổi ấu thơ.
Thật ra, xu hướng bình thường của đứa trẻ nhỏ (trai hay gái) muốn khám
phá thân thể của nó, cũng như những cảm giác ngẫu nhiên như được lau
mình sau khi tắm, được xoa phấn, hoặc cả việc cảm thấy sự chuyển động
của không khí ở các vùng sinh dục, khi đứa trẻ trần truồng trước hay
sau khi tắm, tất cả những điều đó có thể làm cho đứa trẻ chú ý ngay
lập tức tới những vùng có thể gây ra một khoái cảm đặc biệt, mạnh mẽ
ấy.
Hơn nữa, Freud đã có thể gắn liền sự khám phá này với những sự kiện có
thực ở thời thơ ấu với những tượng trưng của các giấc mơ cũng như với
kinh nghiệm người lớn, như chúng ta đã thấy. Những dịp trần truồng tự
nhiên, những vận động trong không khí, việc luyện tập cơ bắp và trò
chơi, đặc biệt là những trò chơi nghịch ngợm vật nhau, tất cả những
điều đó có thể gây ra hưng phấn tính dục, tuy rằng điều này cũng là
tất nhiên - sự hưng phấn ấy tuyệt nhiên không được coi là có liên quan
gì với sự sinh đẻ, cũng như với những gì sẽ được hiểu rõ hơn và trở
thành quan trọng hơn trong cuộc đời người lớn.
Thậm chí, như Freud đã nhiều lần nêu ra, số phận của trẻ con thường
phải chịu sự hưng phấn tính dục ngây thơ ấy trong năm năm đầu tiên của
cuộc đời, và thường bị người lớn mắng mỏ dữ dội, đôi khi bị đe dọa
nữa, mà những sự đe dọa này chính là bắt nguồn từ tuổi thơ ấu bị dồn
nén của người lớn và tạo ra những nỗi khiếp sợ tiềm tàng về sự bỏ rơi,
tước đoạt, cắt xẻo mà trẻ con không thể tránh khỏi từ phía những người
lớn có các thái độ như vậy đối với chúng. Một bé trai khám phá ra rằng
dương vật của nó là một nguồn gây khoái cảm, thì chỉ có thể nghe mẹ
hay bố nó mắng khi bắt gặp nó đang tự vuốt ve: " Mày mà không để nó
yên, thì tao sẽ xẻo đi đấy!". Những mối đe dọa này, có khi được bố mẹ
gắn cho một ông thầy thuốc gia đình hay thậm chí cho người thợ ống
nước được mời tới làm việc, cũng là một phần trong những ngẫu nhiên
thời thơ ấu cho phép khám phá ra những khoái cảm do thân thể của nó
đem lại, cũng như những phương tiện để tạo ra những khoái cảm ấy.
Vì lẽ đó, những tình cảm của đứa trẻ đối với các quan hệ với bố mẹ nó,
cũng như thái độ của bố mẹ đối với thân thể của nó và tương lai của
nó, có thể là hết sức khác nhau.
Freud cho rằng, vì những liên hệ con người thân thiết đầu tiên của đứa
trẻ thường gắn với mẹ nó, hay với người nào làm vai trò của mẹ nó về
những sự chăm sóc đầu tiên và về giáo dục, nên người mẹ bao giờ cũng
là tình yêu thương đầu tiên của đứa trẻ. Bằng hai cách diễn đạt, Freud
xác định thật chính xác những gì ông hiểu về mặt phát triển tính dục
ấy ở loài người. Những đối tượng tính dục, hay những đối tượng yêu
thương, là những người và vật mà chúng ta hướng libido của mình, tức
là xung lực nội tại nhằm thỏa mãn tính dục, vào đó. Cách hướng dẫn
xung lực ấy, Freud gọi là mục đích tính dục. Trong tất cả các trước
tác của mình, Freud dùng tiếng Đức Trieb, thường được dịch sang bản
tiếng Anh của tác phẩm của ông thành "bản năng" (instinct), nhưng có
lẽ đúng hơn, nên dịch thẳng bằng từ "xung lực", hay bằng cụm từ "xung
lực bản năng". Mục đích tính dục là sự tìm kiếm mục tiêu của xung lực
bản năng ấy - tức tính dục; còn đối tượng tính dục chính là mục tiêu
được tìm.
Nhưng ngay trong tuổi ấu thơ, sự say mê thầm kín của đứa trẻ đối với
mẹ không thể được đứa trẻ coi là vô tội, cũng không thể được thỏa mãn
đầy đủ. Sự say mê ấy không thể được thỏa mãn vì đứa trẻ không thể
giành được mẹ về nó hoàn toàn; sự say mê ấy không thể là vô tội vì đứa
trẻ gắn liền thái độ rõ ràng không tán thành của bố mẹ đối với sự hưng
phấn tính dục của nó với những tình cảm ghen tị và tranh chấp thầm kín
của nó đối với người bố. Theo trực giác, nó không thể không coi người
bố là một đối thủ giành giật với nó về tình cảm, sự quan tâm và tất cả
những thứ khác mà nó muốn có từ mẹ, nhưng mẹ thì lại dành cho bố theo
một lối nào đó.
Freud đặt cho tình huống này tên gọi mặc cảm Oedipe, dựa vào một huyền
thoại cổ điển Hy Lạp nói về hoàng tử ngây thơ ở Thèbes được lời phán
truyền tiên đoán rằng chàng sẽ giết bố và lấy mẹ. Bố chàng sai bỏ
chàng ở một sườn núi, hai chân bị đục xuyên qua, để cho chàng phải
chết vì đói và phơi mình ra cho đủ mọi thứ nguy hiểm. Hoàng tử nhỏ
được những người lạ tìm thấy, nuôi nấng và cuối cùng trở về để thực
hiện lời tiên tri mà chàng không biết tới và người ta cũng không nhận
ra được chàng.
Trước khi giết vua, giải phóng vương quốc khỏi sự đè nén của một con
quái vật man rợ và khủng khiếp (con nhân sư thành Thèbes) và lấy hoàng
hậu làm vợ, mà đó chính là mẹ mình, chàng không biết rằng chàng đã làm
những gì. Hối hận về tội ác không thể giải thích được ấy - chính lịch
sử cũng chứng minh rằng bản thân Oedipe không chịu trách nhiệm - chàng
đã tự móc mắt mình và đi lang thang, mù lòa, như bị lưu đầy khắp thế
gian.
Mặc cảm Oedipe phải được hiểu như một nỗi sợ thật sự, nhưng bị dồn nén
của đứa trẻ khi sợ bố thiến để trừng phạt mong muốn hoàn toàn chiếm
lấy mẹ của nó. Dù có muốn mô tả mặc cảm này bằng lời nói, chúng ta
cũng không thể nào dùng lời để mô tả mặc cảm ấy. Không một đứa trẻ nhỏ
nào có thể nói lên thành lời mặc cảm Oedipe, dù đó là những lời thú
nhận, giãi bày, sám hối và xin được yên lòng. Thế nhưng, những tình
cảm mang nặng cảm xúc như vậy không thể kéo dài một cách có ý thức
được, vì thế chúng bị dồn nén lại. Cùng với sự dồn nén mặc cảm Oedipe,
cũng kết thúc giai đoạn hoạt động tính dục trẻ con và hưng phấn có ý
thức. Các cảm giác tính dục vẫn còn đó, nhưng đã giảm bớt đi và rất
thường khi không được thừa nhận. Tính tò mò vẫn còn, nhưng rất hiếm có
những đứa trẻ dám đặt ra các câu hỏi. Thời kỳ này kéo dài khoảng từ
năm đến mười một tuổi, trong đó có một sự yên lặng lừa phỉnh dường như
bao trùm lên mà Freud gọi là thời kỳ tiềm ẩn (période de latence).
Nhưng mặc cảm Oedipe, dù là nhân tố chủ yếu trong thời thơ ấu, không
phải chỉ một mình nó bị dồn nén. Ngoài khả năng có một sự đe dọa của
bố mẹ ra, tại sao đứa trẻ lại lo ngại về một sự thiến hoạn, và tại sao
người lớn lại đem tới cho đứa trẻ thuộc về thế hệ sau một nỗi khiếp sợ
như vậy? đối với câu hỏi ấy, Freud nghĩ tới hai cách trả lời: trước
hết, do một ý thức bẩm sinh về sự thiến hoạn, như bạo lực thể chất lớn
nhất trước cả việc giết người; còn câu trả lời kia thì trực tiếp mượn
từ kinh nghiệm riêng của đứa trẻ, cũng như từ việc nó quan sát bầu Vũ
trụ của nó. Freud đã nói rằng những đứa bé trai không chỉ khám phá ra
dương vật của chúng là một nguồn khoái cảm, mà còn tưởng rằng mọi
người đều làm như chúng cả; đặc biệt là chúng tin rằng cả phụ nữ và
các bé gái cũng có dương vật như đàn ông và các bé trai. Ảo giác này
chắc chắn vẫn còn cho tới khi đứa trẻ lần đầu tiên phát hiện ra rằng
trên thực tế không phải như vậy. Trẻ con có thể có những ký ức - màn
chắn, trong đó phụ nữ và các bé gái có dương vật, dù chúng đã thật sự
nhìn thấy như thế nào. Nhưng khi đã xuất hiện ý nghĩ về sự thiến hoạn
thì phụ nữ và các bé gái sẽ là tấm gương khủng khiếp về chuyện này. Về
phần chúng, các bé gái rất sớm thấy ra rằng chúng có một âm vật chắc
chắn là thấp kém hơn, dù rằng nó giống mọi mặt với dương vật chúng
thấy ở các bé trai. Đối với một số bé gái, điều đó có thể đưa tới một
cảm giác tự ti mà trong cả cuộc đời sau đó sẽ rất khó trừ bỏ.
Trong cả giai đoạn đầu của hoạt động tính dục trẻ con, tức là khi đẻ
ra đến khoảng bốn hay năm tuổi, các bé trai và bé gái có những ý đồ
tìm hiểu và khám phá những sự thỏa mãn giống nhau...
Phương pháp rõ rệt nhất, dù đó là phương pháp phát triển sớm nhất, là
việc trẻ con thủ dâm với chính các cơ quan sinh dục. Chúng ta đã thấy
rằng ở các bé trai, đương nhiên đó là một cái gì chúng học để làm khi
sờ mó hay vuốt ve dương vật của chúng, còn các bé gái thì cũng chú ý
giống như thế tới âm vật. Nhưng theo lý thuyết của Freud về các vùng
gây dâm, rõ ràng là chúng ta phải khám phá ra được một hoạt động tương
tự có quan hệ với miệng và môi, cũng như với hậu môn và chỗ tiếp nối
hậu môn - trực tràng giữa da và niêm mạc. Ví dụ cổ điển về sự kích
thích một vùng gây dâm ở miệng là việc trẻ mút ngón tay. Freud dùng ví
dụ này để minh họa cho hoạt động tính dục trẻ con ở giai đoạn đơn giản
nhất và thô sơ nhất của nó. Ông đã dẫn ra ca một bé gái kéo dài việc
mút tay này trong suốt thời thơ ấu, cho đến tuổi dậy thì và cả sau đó
nữa; cô gái này về sau nhận xét rằng, dù cái hôn tạo ra một cảm giác
rất gần giống như thế, nhưng chỉ có những cái hôn thích thú nhất mới
có thể đem lại một khoái cảm ngang với khoái cảm mà cô có được khi mút
ngón tay cái trước đây.
Đó là một sự cố định tính dục xẩy ra ở một trình độ hoạt động mà bình
thường chỉ có ý nghĩa với trẻ con vào buổi đầu cuộc đời của nó. Nhưng
khi đã vượt qua giai đoạn này, khi đã đạt tới một sự phát triển chín
muồi hơn, vẫm có thể trở về với trình độ cũ hơn ấy, một sự trở về mà
Freud gọi là thoái lùi (régression), do những điều kiện đối địch hay
cưỡng bức mà có. Ngoài ra, trong một số trường hợp, sự cố định ấy có
thể mang tính tuyệt đối, khiến cho không thể có một sự phát triển xúc
cảm và tâm lý - tính dục nào sau giai đoạn này nữa. Khái niệm về sự
giới hạn số lượng năng lượng tính dục có sẵn ban đầu (libido) và về sự
cố định bắt buộc của nó ở những trình độ phát triển khác nhau sau
trưởng thành ở một số người khác, chắc chắn đã mang lại cho Freud cơ
sở lý thuyết chung về nhiễu tâm của ông.
Giữa những khoái cảm môi miệng và những khoái cảm sinh dục, là những
khoái cảm về kích thích hay nín giữ ở hậu môn trong tuổi ấu thơ. Chúng
ta đã thấy rằng việc tống ra hay giữ lại phân đối với trẻ con có thể
có một tầm quan trọng vừa thể chất vừa xúc cảm, do những cảm giác của
thân thể nó và do những quan hệ với bố mẹ có dính dáng với những chức
năng ấy. Điều đó cũng có thể mang một tầm quan trọng về mặt tượng
trưng kéo dài cả đời. Lúc đầu, phân được đứa trẻ coi như một bộ phận
của bản thân nó; do đó, phân không chỉ là một quà tặng, mà còn là một
quà tặng quí giá vì nó đến từ chính bên trong con người. Thế nhưng
chẳng bao lâu, đứa trẻ hiểu ra rằng việc chú ý tới sản phẩm ấy, việc
trộn nó, ngửi nó, dùng nó để bôi vấy ra, và cả việc sờ tới nó nữa, đều
bị bố mẹ kịch liệt chống lại.
Hiếm có những đứa trẻ nào không trải qua kinh nghiệm ấy và không phải
chịu phản ứng ấy. Lúc đó phân trở thành kinh tởm. Nó bị coi là gớm
ghiếc, bẩn thỉu và được tượng trưng đúng như vậy ở cấp độ ý thức.
Nhưng ở cấp độ vô thức, nó vẫn giữ lại một yếu tố giá trị ban đầu của
nó. Và ở đâu nảy sinh ra một sự cố định ở cấp độ hậu môn, tuy rằng
phân không thể tích giữ mãi được vì không thể kéo dài mãi trạng thái
táo bón, thì ở đó những vật có giá trị khác mà chủ thể có được sẽ có
thể chất đống lên đến mức không còn được sử dụng theo công dụng riêng
của chúng nữa.
Kẻ hà tiện tích trữ tiền bạc, nhà sưu tập mua các bức tranh có giá
trị, nhưng khi đã có được những thứ đó lại không nhìn tới cũng không
trưng chúng ra, cũng như những người ám ảnh buộc phải làm mãi những
công việc chưa xong trong một thời gian dài và không có hiệu quả, đó
là những ví dụ thuộc loại cố định tượng trưng sẽ biến thành một kiểu
hoạt động chung trong cuộc đời về sau.
Bây giờ ta bắt đầu chú ý xem Freud đã theo dõi như thế nào những kinh
nghiệm và hành động cũ nhất ở thời thơ ấu cho tới khi những thứ đó vẫn
còn nằm trong những xúc cảm và ứng xử của đời sống trưởng thành, do đó
tạo ra nền tảng quan trọng nhất của khái niệm này: Cấu trúc của tính
dục trẻ con, thiếu niên và người lớn. Khi người ta hỏi Freud là ông
làm thế nào có thể biết được những sự phát triển của sự dồn nén riêng
ở giai đoạn này, ông trả lời rằng nếu có đủ khôn khéo và kiên nhẫn,
thì việc phân tích người lớn không thể không đi ngược lên tận những
gốc rễ trẻ con bị dồn nén, xa hơn cả chấn thương hiển nhiên có ý nghĩa
quyết định đối với bất cứ chứng nhiễu tâm thông thường nào, bất cứ
hành vi hoặc vấn đề triệu chứng nào.
Bản chất của dục tính trẻ con chắc chắn được bộc lộ ở đó; dưới ánh
sáng của một trạng thái lâu bền như vậy, thật hợp lý khi khẳng định
rằng dục tính ấy có ở tất cả mọi người. Không kém phần hiệu nghiệm,
không kém phần rõ ràng qua việc phân tích sau đó, người ta có thể gặp
thấy những mặc cảm khác tương tự, như sự ganh đua giữa anh em và chị
em, cũng như một ý thức lờ mờ nhưng quan trọng về bản chất của hành vi
tính dục người lớn. Ý thức này là do những lời đồn đại, thì thào, hoặc
trong một số trường hợp, do nhìn thấy người lớn giao hợp với nhau, một
sự quan sát dễ xẩy tới hơn người ta tưởng, vì người lớn cứ nghĩ rằng
cảnh tượng ấy chẳng có ý nghĩa gì với trẻ con. Thật ra, trẻ con bị rối
loạn, bị xáo động và kích thích rất mạnh vì tính dục của người lớn,
chúng tưởng rằng giao hợp là một sự gây hấn, một sự chinh phục, một sự
đầu hàng bất lực. Kinh hãi, bị quyến rũ, chúng nóng lòng tham dự nhưng
lại lo sợ một cách tuyệt vọng bị bắt quả tang là đang nhìn. Nhiều năm
sau khi lần đầu tiên lý thuyết ấy bị lên án, Freud lại đạt được điều
mà ông coi là sự xác nhận dứt khoát đối với nó; việc phân tích đầu
tiên về một đứa trẻ chưa đầy năm tuổi, ca phân tích bé Hans nổi tiếng.
Một hậu quả không tránh khỏi của bản chất nhất thiết đơn độc của hầu
hết trường hợp tính dục trẻ con, là nó chỉ có thể được biểu hiện bằng
một hình thức tự kích thích hay tự kích dục nào đó, tạo thành tính
chất ngầm ẩn của sự thủ dâm dưới một hình thức nào đó. Một đứa trẻ mút
ngón tay cái, hoặc nó thấy thoã mãn khi điều khiển cơ thắt hậu môn của
nó, hoặc vì sự khám phá ra dương vật hay âm vật nên nó thích lối kích
thích vào đó hơn cả, thì trong hầu hết các trường hợp trẻ con phải tự
đem lại sự kích thích ấy một mình. Freud có chú ý tới việc một số vú
nuôi trẻ, mốt số bà mẹ và cả một số ông bố nữa có thể quyến rũ con
mình khi họ kích thích tính dục trẻ con của chúng dù vô tình hoặc cố
ý.
Điều xảy ra ấy là không thể phủ nhận được. Nhiều vú nuôi mơn trớn các
cơ quan sinh dục đứa trẻ mà họ phải chăm nom; nhiều bà mẹ vuốt ve con
trai hay con gái mình theo lối tính dục cũng như theo tình mẹ con;
nhiều ông bố đã kích thích con trai và con gái mình bằng cách tung
chúng lên rồi đỡ lấy, bằng cách ru chúng trên tay hay bằng cách đặt
chúng ngồi lên đầu gối bỏ hai chân ra hai bên, làm cho chúng có những
cảm giác nhịp điệu kích thích thú vị mà cả con lẫn bố đều tất thích
thú vì những lý do không hoàn toàn có ý thức từ cả hai phía. Nhưng
chính vì phần lớn những hành vi ấy thật tự nhiên và thường không nhận
ra được nên chúng không những là ngây thơ mà rất thường khi chỉ làm
phát triển một kiểu cảm giác tính dục và một sự qui định mục đích tính
dục mà đứa trẻ đã có do bẩm sinh. Cái quyết định độ chín muồi không
phải chỉ là diễn biến của mục đích tính dục, mà cả đối tượng gắn với
nó. Điếu đó đưa chúng ta tới chỗ xem xét những sự loạn dâm
(perversions sexuelles).
Freud đã dũng cảm nhận xét rằng đời sống tính dục của những người
lớn bình thường gần như luôn luôn vượt quá - theo hướng này hay hướng
khác - những gì mà người ta coi là bình thường theo qui ước, và những
sự vượt quá được mọi người chấp nhận ấy có nguồn gốc từ trong rất
nhiều hoạt động đầu tiên chưa phân hoá của trẻ con...
Có thể hiểu những sự loạn dâm theo lý thuyết của
Freud về tính dục; chỉ cần coi chúng như những sự lệch lạc đối với mục
đích tính dục bình thường, hay như những sự cố định vào một đối tượng
tính dục chưa trưởng thành trong đối tượng tính dục của người lớn bình
thường, tức là một bộ phận sinh dục chín muồi của giới tính đối lập.
Có thể giải thích bất cứ sự loạn dâm nào bằng lối này; vì mọi loạn dâm
đều nằm ở trạng thái tiềm ẩn trong tính dục trẻ con, nên Freud miêu tả
trẻ con giống như những kẻ loạn dâm đa dạng (pervers polymorphes)
trong lĩnh vực tính dục. Một sự chọn lựa từ ngữ không đạt đối với một
người đã vấp phải quá nhiều chống đối! Nhưng điều đó chỉ có nghĩa
là: vì tính dục của trẻ con là ngây thơ, không hiểu biết, chưa phân
hoá, nên nó có thể đem lại vô số dạng thỏa mãn từng phần hoặc không
đầy đủ. Đặc trưng của tất cả những sự loạn dâm là chuyển những thoã
mãn không đầy đủ ấy sang trình độ người lớn; nhưng cả ở đây nữa,
Freud đã dũng cảm nhận xét rằng đời sống tính dục của những người lớn
bình thường gần như luôn luôn vượt quá - theo hướng này hay hướng khác
- những gì mà người ta coi là bình thường theo qui ước, và những sự
vượt quá được mọi người chấp nhận ấy có nguồn gốc từ trong rất nhiều
hoạt động đầu tiên chưa phân hoá của trẻ con. Có nhiều ví dụ làm cho
điều này sáng rõ hơn.
Có lẽ hình thức lệch lạc có tính chung nhất trong cuộc đời người lớn
là tính dục đồng giới
(homosexualité), hiện nay nói chung được
gọi là sự đảo ngược (libido trở về với một đối tượng giống với chính
nó) hơn là sự loạn dâm (không có ham muốn tính dục khác giới bình
thường đối với những đối tượng tượng trưng, từng phần hay biến dạng).
Tính dục đồng giới là một sự cố định đơn giản của libido vào một đối
tượng tính dục chưa hoàn toàn phân hoá với chủ thể. Một số gốc rễ của
tính dục đồng giới có từ tuổi ấu thơ, khi trẻ con tưởng rằng các giới
tính đều được tạo ra giống nhau, và dù là con trai hay con gái, chúng
đều đồng nhất những nhu cầu mạnh nhất của chúng với mẹ. Như sẽ thấy
dưới đây, một sự gia tăng sau này của những gì có thể được coi như
giai đoạn tính dục đồng giới bình thường trong tuổi thiếu niên sẽ làm
cho trình độ phát triển ấy của chủ thể đi xa nhất. Trong trường hợp
này, biểu hiện đầy đủ của cảm giác tính dục chỉ có thể đến từ một kiểu
kết hợp và giao cảm với một người thuộc cùng giới tính.
Loạn dâm là những hình thức trưởng thành chưa đầy đủ của đối tượng
và mục đích tính dục; chúng ngăn cản sự kết hợp hoàn toàn với một
người khác, dù đó là ai. Trong những hình thức loạn dâm ấy, có thể
kể tới tật nhìn ngắm (voyeurisme), đó là khi việc
nhìn những người cùng giới hay khác giới tính trần truồng, nhìn những
người khác đang có những quan hệ tính dục, tìm cách ngắm những bộ phận
sinh dục của người khác hay nhìn kẻ khác đang đái hoặc đang ỉa, thay
cho một mục đích tính dục đầy đủ hơn. Thói phô bày
(exhibitionnisme), tức là muốn phô các cơ quan sinh dục của
mình ra và, nếu có thể, khiến người khác cũng phô của họ ra, là ảnh xạ
của tật nhìn ngắm. Hai thứ loạn dâm này thường có ở cùng một người; cả
hai đều thấy có ở đàn bà, vì những mặt tượng trưng của dục tính ở đàn
ông ít bị ức chế hơn, do đó có nhiều hơn.
Freud cho rằng đàn bà bị ức chế về tính dục hơn đàn ông về mọi mặt;
nhưng đây có thể là một trong những trường hợp mà kinh nghiệm cá nhân
và những mặc cảm quyết định tư tưởng của ông đã thường xuyên duy trì
một vùng mù ở ông.
Ác dâm (sadisme) và khổ dâm
(masochisme) là một cặp đối lập bổ sung nhau khác nữa. Ác dâm
là hình thức tính dục đòi phải gây đau đớn và nhục nhã, hay chỉ là -
trong những ca nhẹ nhất - phải thống trị người làm tình về thể chất
hay xúc cảm trước khi có thể đạt được một sự thoã mãn đầy đủ. Khổ dâm
là xu hướng ngược lại; đó là nhu cầu tự thấy mình bị bất lực, phải
chịu đau đớn hay nhục nhã, hoặc chỉ khi bị khống chế về thể chất thì
mới có thể cảm thấy hoàn toàn thoả mãn. Những ca cùng tột của ác dâm
và khổ dâm có thể đẩy tới chỗ gây ra những vết thương thể chất thật
sự, hay đặt chủ thể vào những nhục nhã ghê tởm về thể chất và tình
cảm. Những vụ giết người vì tình dục hay sự lệ thuộc đê tiện mà một số
người đàn ông trả tiền cho gái điếm để bắt họ phải chịu khi quan hệ
tình dục là những ví dụ rõ nhất của tình trạng ấy.
Thói giao hợp với thú vật (bestialité) và
thói giao hợp qua hậu môn, hay sự giới hạn hoạt
động tính dục vào việc cám dỗ trẻ con, là những ví
dụ khác nữa về những sự loạn dâm có đối tượng tính dục không bình
thường. Ví dụ tột cùng về đối tượng tính dục không bình thường vẫn giữ
hình thức người là thói loạn dâm tử thi
(necrophilie), tức là khả năng ham muốn có những quan hệ tính
dục với một xác chết. Cuối cùng, có những loạn dâm trong đó có sự sùng
bái một bộ phận nào đó của thân thể mình hay thân thể một kẻ khác, một
chiếc quần, áo hay tượng trưng cho loại đó, như giày nhọn gót, đồ lông
thú, các cuộn tơ hay nylon, hoàn toàn thay thế cho những liên hệ con
người; những sự loạn dâm ấy được gọi là bái vật giáo
(fétichisme), giống như sự tôn thờ của những bộ lạc nguyên
thủy đối với những vật vô tri nhưng được coi là chứa đựng linh khí của
một vị thần. Bái vật giáo kết hợp sự phát triển không đầy đủ của mục
đích tính dục và một sự lựa chọn không bình thường về đối tượng tính
dục vào một hành vi duy nhất.
Khi kể ra những hiện tượng này trong Nhập môn phân tâm học của
mình, Freud ngừng lại, và gần như để trả lời sự ghê tởm biểu lộ ở cử
toạ, ông kêu lên: "Nhưng đúng là có khá nhiều những sự kinh khủng
ấy!". Nhưng thật ra, những sự kinh khủng ấy trở nên ít khủng khiếp
hơn, nếu ta hiểu chúng đúng hơn, nếu ta làm những gì Freud yêu cầu khi
áp dụng những kết quả của lý thuyết về tính dục trẻ con của ông vào
việc tìm hiều chúng.
Hết sức rõ ràng, tính dục đồng giới chỉ là sự thay
thế mục đích gần hơn và dễ đạt tới hơn ấy ở một người bạn cùng giới
cho thách thức cuối cùng mà một người bạn khác giới đưa ra...
Đối với đàn ông, đàn bà mang mối đe doạ của một vũ trụ không có dương
vật, vũ trụ mà dương vật có thể bị lấy mất, theo một số hoang tưởng
trẻ con. Từ đó nảy sinh ra những hoang tưởng về việc dương vật bị âm
hộ và âm đạo của đàn bà làm tổn thương trong các quan hệ tính dục.
Quan niệm âm đạo có răng cắn (vaginadentata) đôi khi là cơ sở khiến
cho một người tính dục đồng giới đàn ông ưa thích một người đàn ông
khác hơn.
Ở đàn bà, sự đe doạ càng rõ hơn nữa tuy nó có thể được chấp nhận dễ
hơn, và vì được thừa nhận dễ hơn, nên nó có thể đem bàn luận, ít ra là
trong tuổi thiếu niên. Những liên hệ tính dục với một người đàn ông -
như một đối tượng tính dục bình thường - là kết quả của mục đích tính
dục bình thường ở người đàn bà; nhưng những liên hệ tính dục ấy cũng
bao hàm việc đưa vào tận bên trong thân thể mình, vào bộ phận thầm kín
nhất và bí hiểm nhất trong thân thể mình, một cái gì không chỉ có vẻ
giống như, mà thường được trình bày như một vũ khí, một dụng cụ, một
ngọn lao, một công cụ mang theo một đe doạ cũng như một hứa hẹn. Ý
thức về nguy cơ như vậy chưa thấy có ở cấp độ trẻ con, khi đứa con gái
tự đồng nhất với bố, giả vờ mình cũng có dương vật, khi nó chưa cảm
thấy bị một người đàn bà khác đe doạ, do đó tốt hơn là nó có thể chăm
sóc một người đàn ông. Ở đây, cái cách mà hoang tưởng muốn xoá bỏ và
đôi khi thay thế hiện thực đã được minh hoạ rõ ràng. Sự thoã mãn tính
dục người lớn - mục đích tính dục chín muồi nhằm tới một đối tượng
tính dục chín muồi - phụ thuộc vào việc rốt cuộc phải chấp nhận rằng
một dương vật sẽ chưa đầy đủ nếu không có âm hộ và âm đạo; cũng vậy,
mong muốn có một dương vật ở người đàn bà chắc chắn sẽ được thoã mãn
khi người đàn bà đi tới chỗ chấp nhận vai trò tính dục của đàn ông
trong cuộc đời mình. Nhưng những hoang tưởng tự thấy mình đủ
(fantasmes d'autosuffisance) và những nỗi sợ bị cắt xẻo có thể đưa một
số người tới chỗ phủ nhận việc đàn bà không có dương vật hoặc dương
vật của đàn ông có thể được an toàn trong thân thể đàn bà. Ở đây, sự
đe doạ cũ nhất, được chuyển từ tuổi ấu thơ sang cuộc sống người lớn,
có thể sinh ra tính dục đồng giới, qua giai đoạn bình thường của những
hứng thú tính dục đồng giới được cảm nhận trong tuổi thiếu niên.
Thói nhìn ngắm và thói phô bày lại càng dễ hiểu hơn
nữa. Việc lượn đi lượn lại vênh vang, không mặc áo quần, chắc chắn đưa
tới sự thoả mãn và hưng phấn cho trẻ con. Những trò khỉ của bọn trẻ
trước khi vào tắm, sự trà trộn vừa dè dặt vừa yên tâm của chúng, việc
chạy trốn, bị bắt, rồi bị đưa về - niềm vui, trạng thái bồng bột chung
trong tình huống ấy - tất cả những điều đó đều hiển nhiên trước tất cả
những bố mẹ nào có thể quan sát bình tĩnh, không bối rối, với một đầu
óc cởi mở. Ở trẻ con, nhìn thấy và được nhìn thấy là những yếu tố quan
trọng của sự thoã mãn tình cảm và của sự hưng phấn tính dục. Điều đó
không những chẳng có gì xấu, mà còn là tốt hơn nữa kia; vì ít ra đây
cũng là một bước tiến tới trên con đường đúng; nó chỉ đưa tới sự cố
định ở giai đoạn này nếu sự phát triển về sau bị từ bỏ, cấm đoán hay
dồn nén.
Ác dâm và khổ dâm đã có một sự đảo lộn thú vị về
thứ tự ưu tiên trong tư tưởng của Freud. Lúc đầu, khi viết Ba tiểu
luận về lý thuyết tính dục (1950), Freud quan niện ác dâm như một sự
mở rộng tính gây hấn bình thường, mở rộng sự thống trị thể chất và
tình cảm bình thường, cần thiết cho một bên làm tình để bảo đảm sự kết
hợp tính dục đầy đủ với phía bên kia. Ở con người, coi tính chất ấy về
căn bản là thuộc về giống đực trong khi vẫn thấy tính chất ấy được
biểu hiện bởi giống cái ở một số loài vật. Tính chủ động tính dục và
tính thụ động tính dục tương ứng với ác dâm và khổ dâm, và ở con
người, tương ứng với những đặc trưng bình thường của đàn ông và đàn
bà. Không phải không lấy làm tiếc, Freud cũng nhận thấy rằng ham muốn
và năng lực thống trị, bắt người khác phải chịu đau đớn như một dấu
hiệu quyền lực đối với người khác, đã xuất hiện sớm hơn ý thức đồng
cảm có giới hạn trong tuổi ấu thơ. Freud ngờ một cách có lý rằng ác
dâm và khổ dâm bao giờ cũng được biểu lộ một mức nào đó ở bất cứ ai có
dấu hiệu ác dâm hay khổ dâm. Một sự trội hơn không bình thường của mặt
này hay mặt kia cũng bao hàm một khả năng hứng thú không bình thường
đối với mặt ngược lại. Freud đã có thể giữ lại toàn bộ phần này trong
lý thuyết của mình; nhưng về sau, khi ông xây dựng giả thuyết về vấn
đề bản năng sống và bản năng chết, ông lại coi ác dâm đứng vị trí
trước tiên, như là nguồn xưa nhất trong hai nguồn: thật ra, khổ dâm đã
mang theo nhu cầu tự huỷ diệt bản thân mình, phục tùng số phận tức
những gì mà vào hồi đó Freud coi là bộ phận hợp thành của trang bị hữu
cơ và xúc cảm (esquipement organique et afectif) của tất cả mọi người.
Từ tất cả những ví dụ ấy, bái vật giáo xét theo một
mặt nào đó là thú vị nhất và sáng rõ nhất. Theo quan niệm nay, mục
đích tính dục đang phát triển đã bị hẫng hụt, chưa được thoã mãn trong
một thời kỳ then chốt của tuổi thơ ấu; do đó, nó đã dừng lại ở một
tượng trưng cho khả năng thoả mãn ấy, thay thế cho đối tượng tính dục
đầy đủ dưới dạng một người khác. Có thể hình dung ra rằng những ngẫu
nhiên bình thường của những tìm hiểu, những kinh nghiệm, những thất
vọng ở tuổi thiếu niên đã đẩy lùi chủ thể - bằng sự thoái lùi - tới
một cái thay thế có tính tượng trưng, từng phần, không đầy đủ cho sự
trưởng thành hoàn toàn. Sau đó, xu hướng này sẽ trực tiếp nhắm tới đối
tượng mới ấy, và libido sẽ được cố định - có thể không đảo ngược được
- vào cái tượng trưng hơn là vào cái được nó tượng trưng. Một lần nữa,
tất cả những chuyển đổi và kết hợp có thể có lại được gặp thấy trong
thực hành lâm sàng và Freud đã gặp chúng gần như đầy đủ tất cả; những
người đàn ông không thể đạt tới cực khoái với những người đàn bà nào
mặc một kiểu quần áo nào đó, đi một kiểu giày nào đó, cùng một kiểu
khăn quàng hay một kiểu đồ lót nào đó; những người đàn ông chỉ có thể
đạt tới cực khoái nếu mặc một chiếc áo quần nào đó để thủ dâm; những
người đàn ông chỉ có thể đạt tới đỉnh cao thoã mãn tính dục khi mặc
những quần áo mà nói chung những người đàn bà được họ tìm cách chinh
phục thường hay mặc, và họ chỉ đạt tới cực khoái bằng cách thủ dâm
trước một tấm gương soi lớn, trần truồng trừ thứ tượng trung bái vật
mà họ mang hoặc ôm vào người.
Thói giả trang, tức thói thích mặc quần của giới tính ngược lại muốn
mang căn tính một người thuộc giới tính ngược lại ở chốn riêng tư cũng
như ở nơi công cộng, đôi khi là một sự phối hợp giữa bái vật giáo và
sự đảo ngược theo chứng nhiễu tâm, đôi khi lại là chứng loạn tâm trong
đó việc tin chắc vào một sự thay đổi về căn tính giới tính đòi hỏi
phải thoã mãn mọi hành vi tượng trưng có thể là tăng thêm niềm tin ấy
vào hiện thực bên ngoài, trong chừng mực bệnh nhân có thể nhận ra và
cảm thấy điều đó.
Freud đã để nhiều thời gian để đạt tới những ý tưởng này và đã đạt tới
một cách khá miễn cưỡng. Cho tới lần xuất bản thứ nhất cuốn Khoa học
về các giấc mơ (1900), người ta vẫn còn thấy một đoạn khá lạ lùng ở
cuối chương 3 (Alcan tr.121) trong đó Freud nhận xét: "Tuổi thơ thật
sung sướng vì nó chưa biết tới nhu cầu tính dục". Nhưng một ghi chú
sửa chữa đã được thêm vào cuối trang đó năm 1911. Trong phần tiếp theo
của cuốn sách, Freud nêu lên hết sức rành mạch sự tồn tại của những
ham muốn tính dục ngay ở cả những đứa trẻ bình thường.
Trong các lời tựa cho những lần xuất bản liên tiếp Ba tiểu luận của
ông, ông nói rất rõ ràng:
"Trừ những thầy thuốc làm phân tâm học, trên thực tế không có ai
bước vào lĩnh vực này, và do đó, có thể đưa ra một phán xét mà không
bị những ác cảm và định kiến của mình qui định. Nói chung, nếu đúng là
chỉ cần trực tiếp quan sát trẻ con cũng đủ, thì chúng tôi chẳng mất
công viết cuốn sách này".
-------------
Theo tôi, cách giải thích về tình dục đồng giới là mơ hồ.
Tưởng tượng, cái "lỗ" nào cũng như nhau, nhưng tôi chỉ chấp nhận cái
"lỗ" nào làm tôi say mê. Tình dục đồng giới là sự thay thế mục đích,
mà đối tượng đồng giới dễ tiếp cận hơn, nhưng không phải vì thử thách
của một người bạn khác giới đưa ra.
Những quan sát của Freud về những biến đổi của tuổi dậy thì có vẻ
tương đối ít bị công kích.
Trái ngược với sự chống đối ông gặp phải khi trình bày các lý thuyết
của mình về tính dục trẻ con và nguyên nhân tâm lý của các chứng loạn
dâm cho công chúng chuyên nghiệp và, sau đó, cho cả công chúng thông
thường, những quan sát của Freud về những biến đổi của tuổi dậy thì,
một chủ để của tiểu luận thứ ba, có vẻ tương đối ít bị công kích, ngay
cả đối với những người muốn phê phán ông nhất.
Tuổi dậy thì chấm dứt thời kỳ tiềm ẩn. Do những thay đổi sinh hoá và
tuyến diễn ra trong cơ thể con người vào giai đoạn này, người ta thấy
có một sự trỗi dậy vô hạn của tất cả những xung lực tính dục đặc trưng
cho tuổi ấu thơ, những xung lực mà bây giờ khả năng được thoã mãn đang
tăng lên. Xung đột Oedipe giữa ham muốn chiếm mẹ hoàn toàn, do đó ghen
tị với bố, và những tình cảm trái ngược nhau vì sợ mẹ đẩy ra, cuối
cùng sợ bố trừng phạt nhưng lại pha lẫn một sự kính trọng và một sự
yêu thương ngầm đối với bố, tất cả những điều được phối hợp lại với
nhau để tạo ra một sự dồn nén của thời kỳ tiềm ẩn ấy bấy giờ lại được
làm sống dậy. Sự xung đột song song ở những đứa con gái - do đó, chúng
biến người bố thành một ca đặc biệt, khi sự phụ thuộc tuyệt đối của
chúng vào người mẹ đã bắt đầu nhường chỗ cho sự thừa nhận vai trò
người bố và mối quan tâm của người bố đối với chúng - tất cả những
điều đó trước đây bị dồn nén thì bây giờ cũng sống dậy. Theo tập quán
gọi những xung đột căn bản theo các bi kịch Hy Lạp, sự cố định tạm
thời của con gái vào bố đôi khi được gọi là mặc cảm Electre (1).
Những biến đổi này có hiệu quả bên ngoài là con trai tuổi thiếu niên
trở thành nổi loạn và khiêu khích đối với uy quyền bố mẹ, nhất là đối
với uy quyền người bố; nhưng con trai lại thường đối xử với mẹ theo
lối pha trộn vụng trộm tình cảm ở chốn riêng tư và kiêu căng ở nơi
công cộng�
Người gây ra sự quyến rũ tính dục sẽ được gọi là đối tượng tình
dục, và hành vi mà xung năng thúc đẩy sẽ được gọi là mục đích tình
dục. Thí nghiệm khoa học chứng tỏ cho ta thấy có nhiều lệch lạc khi
thì ở đối tượng, khi thì ở mục đích tình dục...
I
Lệch lạc tính dục
Để giải thích các nhu cầu tính dục của con người và của con vật, trong
sinh học người ta sử dụng giả thuyết tồn tại một "xung năng tính dục";
điều đó cũng giống như để giải thích cơn đói, người ta giả định có
xung năng dinh dưỡng. Tuy nhiên, để nói về nhu cầu tính dục, ngôn ngữ
dân gian không có thuật ngữ tương ứng với từ cơn đói; còn ngôn ngữ
khoa học dùng thuật ngữ: "libido" (dục năng)
Dư luận đại chúng tạo nên một số định kiến về bản chất và đặc trưng
của xung năng tính dục. Chẳng hạn, người ta nhất trí nói rằng cái xung
năng ấy vắng bóng trong thời thơ ấu, rằng nó hình thành vào lúc dậy
thì, và nó có liên quan mật thiết với quá trình dẫn đến sự trưởng
thành, rằng nó biểu hiện dưới dạng một sức hút không cưỡng lại được do
một người thuộc giới tính này gây ra đối với một người khác thuộc giới
tính kia và rằng mục đích của người đó là sự giao hoà tính dục, hay ít
là một tổng thể cá chành vi hướng tới mục đích đó.
Chúng tôi có lý do để tin rằng sự miêu tả này chỉ diễn tả được một
phần rất nhỏ hiện thực. Nếu phân tích kỹ, ta sẽ phát hiện ra hàng đống
sai sót, những điều không chính xác và những đánh giá vội vã.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xác định hai thuật ngữ. Người gây ra sự
quyến rũ tính dục sẽ được gọi là đối tượng tình dục, và hành vi mà
xung năng thúc đẩy sẽ được gọi là mục đích tình dục. Thí nghiệm khoa
học chứng tỏ cho ta thấy có nhiều lệch lạc khi thì ở đối tượng, khi
thì ở mục đích tình dục, mà chúng ta cần nghiên cứu sâu mối liên quan
giữa các sai lệch đó với cái mà ta coi là trạng thái bình thường của
sự vật.
I. Những lệch liên quan đến đối tượng tình dục
Chúng ta tìm thấy cách diễn giải hay nhất khái niệm dân gian về xung
năng tính dục trong truyền thuyết đầy thi vị kể rằng nhân loại bị chia
thành hai nửa - đàn ông và đàn bà - từ đó họ luôn có xu hướng hợp nhất
bởi tình yêu. Điều đó lý giải tại sao người ta rất ngạc nhiên khi biết
một số đàn ông có đối tượng tình dục không phải là đàn bà, mà là đàn
ông, và tương tự như vậy, một số đàn bà lại có đối tượng tình dục là
đàn bà.
Người ta gọi những người thuộc loại đó là đồng tính luyến ái
(homosexuel) hay đúng hơn là những người bị nghịch đảo giới tính
(inverti), và gọi hiện tượng đó là hiện tượng nghịch đảo giới tính
(inverrsion). Chắc chắn có rất đông người bị giới tính nghịch đảo,
nhưng nhận diện được họ thường vẫn rất khó khăn.
A. Nghịch đảo giới tính
Cách ứng xử của những người nghịch đảo giới tính - người ta phân biệt
các loại sau:
a. Những người nghịch giới tuyệt đối, tức là những
người chỉ có đối tượng tình dục là người cùng giới tính với họ, còn
những người khác giới đều khiến họ thờ ơ hoặc thậm chí gây cho họ một
sự ghê tởm tình dục. Nếu như người đó là đàn ông, do có sự ghê tởm đó,
anh ta sẽ không có khả năng thực hiện hành vi tình dục bình thường,
hay chí ít, anh ta sẽ không tìm thấy một chút hứng thú nào.
b. Những người nghịch giới (ái nam, ái nữ về mặt tâm lý
giới tính), tức là những người có thể có đối tượng tình dục là
người cả giới này lẫn giới kia không phân biệt. Như vậy, loại nghịch
đảo giới tính này sẽ không có đặc trưng về tính chuyên môn.
c. Những người nghịch giới cơ hội. Hiện tượng
nghịch đảo giới tính khi đó do ngoại cảnh quy định, đặc biệt do thiếu
vắng một đối tượng tình dục bình thường, hoặc do ảnh hưởng của môi
trường.
Những người giới tính nghịch đảo ứng xử khác nhau tuỳ theo cách họ tự
đánh giá về đặc thù giới tính của mình. Đối với một số người, sự
nghịch đảo giới tính là một chuyện tự nhiên như khuynh hướng dục năng
libido của họ, họ coi việc đó là bình thường. Họ đòi hỏi
có luật để cho sự nghịch đảo giới tính được đặt ngang hàng với giới
tính bình thường. Một số người khác phản kháng chống lại hiện tượng
nghịch giới của họ và cảm nhận nó như một nỗi bức bách bệnh hoạn.
Người ta còn phân biệt các loại nghịch đảo giới tính khác nhau theo
quãng đời lúc các biểu hiện tính dục đó xuất hiện. Ở một số người,
hiện tượng nghịch đảo giới tính dường như có từ lâu, không thể nhớ
được nữa. Ở một số người khác, hiện tượng đó biểu hiện vào một thời
điểm xác định, trước hoặc sau dậy thì. Đặc trưng tính dục này có thể
được lưu giữ suốt đời, mà cũng có thể biến mất nhanh chóng; nó có thể
chỉ là một đoạn nhỏ dẫn tới bước tiến triển bình thường. Cuối cùng, nó
có thể xuất hiện muộn màng, sau một thời kỳ dài có giới tính bình
thường. Người ta thậm chí đã lưu ý các trường hợp dao động theo thời
kỳ giữa một đối tượng tình dục bình thường và một đối tượng tình dục
đồng giới. Những trường hợp dục năng libido ngả theo hướng đảo giới
tính sau khi có trải nghiệm đau khổ với một đối tượng tình dục bình
thường, là những ca đặc biệt thú vị.
Các loại biến thể khác nhau đó nói chung độc lập với nhau. Ở dạng cực
đoan nhất, dạng nghịch đảo giới hoàn toàn, ta có thể chấp nhận là đặc
thù giới tính xuất hiện sớm trong đời và cá nhân đó sống hoà hợp được
với nó.
Chắc chắn nhiều tác giả sẽ từ chối gom các ca khác nhau kể trên vào
cùng một rọ, bởi vì họ nhấn mạnh tới những khác biệt chứ không phải
tới những tương đồng của chúng, như thế mới phù hợp với quan điểm của
họ về hiện tượng nghịch đảo giới tính. Nhưng cho dù các chia rẽ bất
đồng là chính đáng, người ta không thể không nhận thấy tất cả các cấp
độ trung gian đều có thể gặp nhau, đến mức dường như cần thiết phải có
một khái niệm về loại.
Lý thuyết về hiện tượng nghịch đảo giới tính. Nghịch đảo giới
tính thoạt đầu được coi là dấu hiệu thoái hoá thần kinh bẩm sinh. Điều
đó được lý giải qua việc những người đầu tiên các thầy thuốc quan sát
thấy có sự nghịch đảo giới tính là những người bị bệnh thần kinh, hay
ít ra mọi biểu hiện bề ngoài có vẻ bị bệnh. Luận thuyết này chứa hai
điều khẳng định cần phải được xem xét một cách riêng rẽ, đó là nghịch
đảo giới tính có đặc tính bẩm sinh, và nghịch đảo giới tính là dấu
hiệu thoái hoá.
Sự thoái hóa. Việc sử dụng tràn lan không suy xét thuật ngữ
thoái hoá làm dấy lên nhiều ý kiến phản bác. Dần dần người ta quen gọi
tất cả các biểu hiện bệnh lý có nguyên nhân không rõ thuộc chấn thương
hay nhiễm trùng là bệnh thoái hóa. Theo bảng phân loại thoái hóa do
Magnan đưa ra, ta có thể áp dụng thuật ngữ thoái hóa cho các ca mà
hoạt động của hệ thần kinh hoàn toàn tốt. Vậy thì giá trị và nội dung
mới của khái niệm thoái hóa này có thể là gì đây? Có lẽ tốt nhất không
nên nói về thoái hóa trong các trường hợp sau:
1.Khi không đi kèm các biểu hiện sai lệch khác.
2.Khi toàn bộ chức năng và hoạt động của cá thể không bị hư hỏng nghiêm trọng.
Có lẽ những người đồng tính luyến ái không bị thoái hóa theo nghĩa
trên, điều đó suy ra từ tổng thể các sự kiện sau:
1.Người ta thấy hiện tượng nghịch đảo giới tính ở một số người không
có các biểu hiện lệch lạc nghiêm trọng khác.
2. Người ta bắt gặp hiện tượng đó ở những người có sự hoạt động chung
không bị rối loạn và thậm chí có thể có sự phát triển tinh thần và trí
tuệ đạt mức rất cao.
3. Đứng ở góc độ tổng quát hơn góc độ của thầy thuốc lâm sàng mà xét,
người ta gặp hai loại việc ngăn ta coi sự nghịch đảo giới tính như là
một vết sẹo để lại của thoái hoá, đó là:
a. Không nên quên nghịch đảo giới tính từng là một thực tiễn thường
xuyên xảy ra, có thể nói hầu như là một định chế quan trọng ở các cư
dân thời Cổ đại, và giai đoạn văn minh cao nhất của họ.
b. Hiện tượng nghịch đảo giới tính cực kỳ phổ biến trong các tộc
nguyên thuỷ và hoang dã trong khi đó thuật ngữ thoái hoá thường chỉ áp
dụng duy nhất cho các nền văn minh tiến bộ (I.Bloch). Ngay cả giữa các
dân tộc văn minh khác nhau ở châu Âu, khí hậu và chủng tộc cũng ảnh
hưởng đáng kể tới mức độ phổ biến của hiện tượng nghịch đảo giới tính
và thái độ đạo đức trước hiện tượng đó.
Đặc tính bẩm sinh của hiện tượng nghịch đảo giới tính. Người ta đã coi
hiện tượng nghịch giới ở duy nhất những người đồng tính luyến ái tuyệt
đối như là nghịch giới bẩm sinh, và để khẳng định điều đó, người ta
dựa vào bằng chứng của chính các bệnh nhân đã khẳng định trong đời họ
chưa bao giờ biết đến một khuynh hướng xung năng tính dục nào khác.
Nhưng thực tế còn có hai loại người đồng tính luyến ái khác nữa, đặc
biệt là loại đồng tính cơ hội; do đó thực tế này không điều hoà được
với giả thiết và đặc tính bẩm sinh của hiện tượng nghịch đảo giới
tính. Đó cũng chính là lý do vì sao những người bảo vệ một giả thuyết
như thế có xu hướng đáng lưu ý là tách riêng loại đồng tính luyến ái
tuyệt đối ra, điều này sẽ dẫn tới phải từ bỏ một giải thích duy nhất
và tổng quát về hiện tượng nghịch đảo giới tính. Vì vậy, sẽ phải chấp
nhận trong một số trường hợp, sự nghịch đảo giới tính có tính chất bẩm
sinh, còn trong một số trường hợp khác nó có căn nguyên khác.
Đối lập với quan niệm trên là quan niệm coi hiện tượng nghịch đảo giới
là một đặc tính tập nhiễm của xung năng tính dục, dựa trên các điểm
sau:
1. Ở đa số người đồng tính luyến ái, kể cả người đồng tính tuyệt đối,
người ta có thể tìm lại được ấn tượng tính dục ở chặng khởi đầu cuộc
sống của họ mà việc tình dục đồng giới chỉ là sự kéo dài và tiếp theo
của cảm giác đó;
2. Ở những người khác, cũng đông không kém, thì các hoàn cảnh thuận
lợi hay bất lợi ấn định ít nhiều muộn hơn sự nghịch đảo giới (chỉ giao
du với những người cùng giới tính, chung chạ trong thời gian chiến
tranh, những ngày ở trong tù, sợ các nguy hiểm xảy ra từ quan hệ tình
dục khác giới, sống độc thân, bất lực...)
3. Thôi miên có thể loại trừ sự nghịch đảo giới tính, điều này sẽ
khiến ta rất ngạc nhiên nếu ta công nhận đặc tính bẩm sinh của nó.
Đứng trên quan điểm đó, người ta có thể dẫn dắt chỗ phủ định hoàn toàn
việc tồn tại một nghịch đảo giới tính bẩm sinh. Chính vì vậy có thể
nói (Havelock Ellis) việc khám xét kỹ càng hơn các trường hợp nghịch
đảo giới gọi là bẩm sinh hoàn toàn có thể làm sáng tỏ được một biến cố
từ thời thơ ấu có ảnh hưởng quyết định đến xu hướng của dục năng
libido; và biến cố đã biến khỏi ký ức hữu thực đó có thể được nhớ lại
nhờ một kỹ thuật thích hợp. Đối với những người bảo vệ một quan niệm
như thế, hiện tượng nghịch đảo giới tính có lẽ chỉ là một trong số vô
vàn biến thể của xung năng tính dục, được quy định bởi sự ngẫu hợp
ngoại cảnh.
Điều khẳng định trên, bề ngoài có vẻ chấp nhận được, lại
không đứng vững trước sự thật dễ dàng kiểm tra, đó là đa số con người
đã biết đến chính các trải nghiệm tính dục đó trong thời gian măng sữa
(sự quyến rũ, thủ dâm lẫn nhau), nhưng không vì tế mà họ trở thành
người tình dục đồng giới, hay chí ít tình trạng đó ở họ không bị kéo
dài. Bởi vậy, người ta buộc phải giả sử rằng tình thế lựa chọn hoặc
đặc tính bẩm sinh, hoặc đặc tính tập nhiễm là đều không bao quát triệt
để được toàn bộ các sự thật, hay hó không thích ứng được với các thể
thức khác nhau của hiện tượng nghịch đảo giới tính.
Còn nữa
Cuốn sách Phân tâm học và tình yêu do Đỗ Lai Thuý biên soạn,
với các bản dịch của Phan Ngọc Hà, Tuệ Sỹ, Hoàng Thiên Nguyễn, Phạm
Vĩnh Cư. Tác giả S. Freud, E. Fromm, A. Schopenhauer, V. Soloviev, Đỗ
Lai Thuý. Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin phát hành năm 2003. Chúng tôi
xin trích đăng cuốn sách này.
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.